Thực trạng giáo dục Việt Nam qua những con số…

Có lẽ chưa bao giờ đề tài giáo duc được đem ra bàn luận nhiều như thời điểm hiện tại. Nguyên nhân trực tiếp có lẽ là từ giải thưởng toán học Fields của giáo sư Ngô Bảo Châu, một  « hiện tượng » mới đang chiếm đa số trên các mặt báo của Việt Nam và cả quốc tế. Từ chuyện gốc gác đến giá trị nền tảng mà anh thừa hưởng, từ chuyện riêng, đời tư đến tầm ảnh hưởng chính trị quốc gia…vẫn đang là những đề tài tranh luận sôi nổi của giới chuyên môn. Tuy nó chưa đến hồi kết, nhưng rất nhiều người đã lấy làm tự hào về nền giáo dục Việt Nam từ sự kiện này. Một thái độ cần được xem lại, cần được soi chiếu với một thực trạng mà các chuyên gia nước ngoài gọi là « khủng hoảng trầm trọng về giáo dục ». Chúng ta sẽ nhìn lại vấn đề này qua các số liệu thống kê từ các diễn đàn, cũng như các báo cáo khoa học chính thức trong thời gian gần đây.

Trong bảng xếp hạng thứ tự các trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế từ trước đến nay thì Việt nam chưa có lấy một đơn vị góp tên trong « top 200 ». Mới đây nhất, năm 2009, người ta công bố 100 trường đại học nổi tiếng trên thế giới, Việt nam vẫn là một « hành tinh » chưa ai nghĩ đến, trong khi Nhật bản có đến 4 trường trong các vị trí khác nhau, Singapo, Hàn quốc, Trung Quốc đều là những quốc gia góp mặt ở những vị trí đáng tự hào.

Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 376 trường đại học, với khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư. Tuy nhiên theo ông tổng thư ký hội đồng chức danh giáo sư, nếu đánh giá đúng theo tiêu chuẩn quốc tế, Việt nam chỉ có khoảng từ 15 đến 20% có trình độ tương ứng với chức danh đó. Còn lại không chỉ thấp mà hơn dưới 1/3 rất thấp.

Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ thi trượt đại học nhiều nhất thế giới. Hiện nay  chỉ có 1/10 người ở độ tuổi học đại học được tuyển sinh. Tuy nhiên, quốc gia này đang được xếp vào những nước có tỷ lệ dân số đạt trình độ đại học trở lên thấp nhất của khu vực và trên thế giới. Ngay các nước láng giềng cũng đang phấn đấu để đạt được tỷ lệ tuyển sinh đại học là 60 – 80% hoặc cao hơn nữa, trong khi chúng ta mới chỉ đạt được khoảng 10 – 15%.

25% chương trình học ở đại học là dành cho các môn bắt buộc và hầu hết là các môn này nhằm mục đích tuyên truyền chính trị.

Việt Nam là một trong những quốc gia còn sót lại của nền giáo dục đại học dưới sự quản lý chặt chẽ từ trung ương, thiếu sự tự quản đến mức khó hiểu. Sự bất cập này không những ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn của đội ngũ giảng dạy mà còn cả các tiêu chuẩn xây dựng cơ sở vật chất.

Mỗi năm có khoảng 20000 sinh viên ra trường và chỉ 50% được đáp ứng việc làm, trong đó chỉ 30% đúng nghành nghề. Dĩ nhiên chúng ta chưa nói đến chất lượng và thực tế chuyên môn của tầng lớp mà người ta gọi là tri thức, là bộ mặt của đất nước.

Trong một cuộc sát hạch, đánh giá của Intel để tuyển dụng 2000 sinh viên công nghệ thông tin, chỉ có 90 ứng sinh, nghĩa là 5% vượt qua kiểm tra, và trong số đó chỉ có 40 người đủ khả năng tiếng anh theo yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận, đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.

Trong 10 năm từ 1996 đến 2005 chỉ có 3456 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp san quốc tế. Nếu đem so sánh với con số giáo sư và phó giáo sư thì trung bình mỗi vị chỉ có 0,58 bài báo cáo trong vòng 10 năm. Không những ít so với quốc tế và so với các nước trong khu vực, Việt Nam cũng đứng vào loại bét nhất : chỉ bằng 1/5 so với Thái lan ; 1/3 Malaysia ; 1/14 Singapo ; thậm chí thấp hơn cả Indonésia và Philippin.

 Chất lượng sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam thấp hơn một bậc  so với nước ngoài. Theo một giảng trình viên của cuộc hội thảo về toán lý hóa : « trình độ của sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam chỉ bằng chương trình đại cương của đại học nước ngoài, cao học bằng đại học và tiến sĩ bằng cao học ».

Việt nam là nước có tỉ lệ « giả tri thức, tiến sĩ giấy, giáo sư dỏm » nhiều đến mức không dám công khai điều tra vì sợ « không có người làm việc ». Việc lấy bằng cấp không biết dễ hay khó, nhưng có lẽ Việt nam là nước duy nhất trên thế giới có ý định đòi 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ ở thủ đô Hà Nội.

Có thể nói giáo dục Việt Nam đang thực sự khủng hoảng, mà nói như các chuyên gia của đại học Harvard thì nó đã đến mức trầm trọng. Người ta vẫn thường mượn đến cái danh của những cá nhân kiệt xuất để che đậy cho một thực trạng yếu kém đến mức báo động. Một cách làm chẳng giống ai, khi cứ tâng bốc rồi « bắt quàng làm họ » trong lúc công trạng lại là của kẻ khác. Người Việt Nam nên vui khi có những con người làm rạng danh đất nước như nghệ sĩ Piano Đặng Thái Sơn, như bộ trưởng bộ y tế Đức Philipp Roesler, như giáo sư Ngô Bảo Châu…Tuy nhiên, chúng ta không nên đánh đồng họ với nền giáo dục Việt Nam, vì những con người này đều trưởng thành từ một nền giáo dục hiện đại ở nước ngoài. Chúng ta cũng không nên ngủ quên vì những lời tán tụng trong khi nền giáo dục của mình vẫn đang ở bậc thấp, đang mò mẫm trong mờ mịt của những bước đi sai lầm. Có lẽ sẽ sáo rỗng khi nhắc đến hai từ « cải cách », nhưng đó vẫn là điệp khúc cần lặp lại để hy vọng vào một tương lai sáng sủa hơn cho giáo dục nước nhà.

Xuân Thu.

 

 

 

 

About these ads
  1. Bài viết mang nặng định kiến. K có con số chứng minh. Nếu có thì chưa trích nguồn rõ ràng.

    • cám ơn bạn! mình cũng không phải chuyên gia, nhưng chỉ là độc giả đọc báo rồi góp nhặt…! chúc vui vẻ!

  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: